Một số bài thơ tiêu biểu Vương_Duy

"Phục Sinh thụ kinh đồ" của Vương Duy.
  • Tương tư;
  • Tống xuân từ; (là bài thơ của Vương Nhai 王涯 được gán cho Vương Duy!)
  • Tống biệt;
  • Hỉ đề bàn thạch;
  • Mạnh Thành ao;
  • Chung Nam biệt nghiệp;
  • Điền viên lạc;
  • Võng Xuyên biệt nghiệp;
  • Quá Lý Tiếp trạch;
  • Chước tữu dữ Bùi Địch;

Ông giỏi văn nghệ, ưa tiêu dao, nên tuy làm việc với triều đình nhưng vẫn thích nơi có cảnh quan yên tĩnh. Ông được gần vua, các cận thần và được quý trọng vì am hiểu văn chương nghệ thuật. Song trong lòng đã sẵn hướng về thiên nhiên nên thơ ông tả nhiều thú điền viên sơn thuỷ. Ông có một trang viên riêng cho mình, ở đó ông gảy đàn, thổi sáo và làm thi phú. Ông để lại khoảng 400 bài thơ, trong đó có những bài thơ thời trẻ, bộc lộ tâm trạng của lớp tri thức có tài có chí không được dùng, sống trong cảnh hàn vi.

Những tháng năm ở biên cương, thơ ông có tình điệu khẳng khái, hiên ngang, đề cao lòng yêu nước, tinh thần hăng hái của những người lính canh giữ biên cương, sẵn lòng vì một triều đại đang mở mang, hướng tới thịnh vượng (Sứ chí tái thượng, Lũng đầu ngâm, Lão tướng hành,...). Thơ ông có một phần nổi bật quan trọng đó là thơ thiên nhiên. Do thú ưa thích một lối sống thanh tao, phong nhã, tâm hồn ông hoà nhập với cảnh sống thanh bình của làng quê yên ấm. Thơ ông miêu tả núi sông hùng vĩ, cảnh làm ruộng, gặt hái, lấy sự chất phác đôn hậu của đời sống dân chúng cần mẫn trên đồng ruộng làm nền. Thơ ông còn đắm trong tư tưởng hỷ xả từ bi của đạo Phật.

Thơ ông được rất nhiều thi sĩ Việt Nam như Tản Đà, Trần Trọng San, Phụng Hà, Trần Nhất Lang, Thái Thanh Nguyên, Trần Ngọc Hưởng, Đinh Vũ Ngọc, Bùi Khánh Đản, Bùi Hạnh Cẩn... dịch lại với nhiều thể lục bát, tứ tuyệt, thất ngôn bát cú.

Dưới đây là bài thơ Tương tư và Sơn cư thu minh, có thể xem là được biết đến nhiều nhất của ông:

相思...紅豆生南國,春來發幾枝。願君多采擷,此物最相思。Tương tư...Hồng đậu sinh nam quốc,Xuân lai phát kỷ chi.Nguyện quân đa thái hiệt,Thử vật tối tương tư.Dịch nghĩa...Đậu đỏ sinh ở phương nam,Mùa xuân đến, nẩy bao nhiêu cành.Xin chàng hãy hái cho nhiều,Vật ấy rất gợi tình tương tư.
山居秋暝...空山新雨後,天氣晚來秋。明月松間照,清泉石上流。竹喧歸浣女,蓮動下漁舟。隨意春芳歇,王孫自可留。Sơn cư thu minh...Không sơn tân vũ hậu,Thiên khí vãn lai thu.Minh nguyệt tùng gian chiếu,Thanh tuyền thạch thượng lưu.Trúc huyên quy hoán nữ,Liên động há ngư chu.Tuỳ ý xuân phương yết,Vương tôn tự khả lưu.Đêm thu ở núi...Không không toà núi sau trận mưa,Thời tiết ban đêm đến đã là thu rồi.Trăng sáng chiếu qua đám cây tùng,Suối nước xanh chảy trên tảng đá.Nghe có tiếng trúc xào xạc mấy cô giặt áo đi về,Tiếng lá sen xao động có người hạ thuyền xuống.Tuỳ ý, hương xuân đã hết,Các vương tôn muốn ở lại thì tự tiện.

Liên quan